Những khẩu súng bắn tỉa đáng sợ nhất thế giới (Phần II)

    TVD,  

    (GenK.vn) - CheyTac M200, L115A3 AWM hay AMP DSR-1 đều là những khẩu sniper có độ chính xác cao và hiệu quả.

    CheyTac M200

    CheyTac M200 là loại súng trường bắn tỉa tầm xa của quân đội Mỹ, được chế tạo bởi CheyTac LLC. Nó được thiết kế nhằm đáp ứng yêu cầu bắn hạ chính xác mục tiêu ở khoảng cách 2km, vốn nằm ngoài tầm với của các cả các loại súng bộ binh đang được sử dụng. Kể từ khi được đưa vào sử dụng năm 2001, CheyTac M200 nhanh chóng tạo ra những ưu thế vượt trội cho quân đội Mỹ, nhờ sức công phá mạnh cùng khả năng tiêu diệt chính xác mục tiêu ở cự ly lớn. Sở hữu trọng lượng lên tới 14kg, độ dài 1,34m cùng chiều dài nòng súng đạt 73,7cm giúp đạn của súng trường bắn tỉa CheyTac M200 đi chính xác ở khoảng cách xa kỷ lục.

     

    Sử dụng loại đạn đặc biệt là .408 CheyTac và .375 CheyTac giúp tăng độ chính xác và khả năng xuyên phá. Do sử dụng loại đạn khá lớn nên hộp đạn của M200 chỉ có thể trang bị 7 viên đạn. Được trang bị nhiều loại ống ngắm khác nhau, thông thường là ống ngắm Nightforce NXS 5.5-22x56 có khả năng phóng đại hình ảnh, bên cạnh đó còn có ống ngắm US Optics SN-9 và ống ngắm ban đêm AN/PVS-14 GEN III trang bị tia laser hồng ngoại AN/PEQ-2 trong điều kiện ánh sáng xung quanh rất yếu.

    Ngoài ra, để hỗ trợ xạ thủ, CheyTac còn chế tạo thêm hệ thống đo lường khoảng cách bằng laser, bộ cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, gió, áp suất không khí v.v… cùng với một thiết bị cầm tay sử dụng hệ điều hành Windows Mobile 2003 có khả năng lập trình quỹ đạo bay của viên đạn, giúp xạ thụ thực hiện những cũ bắn chuẩn xác nhất.

     

    CheyTac M200 có tầm bắn hiệu quả nhất từ 1800 – 2000 m, với độ lệch nhỏ hơn 1 MOA, bên cạnh đó  loại đạn .408 CheyTac còn có khả năng xuyên phá bất kỳ loại áo giáp cá nhân nào, đem lại hiệu quả rất cao. Kỷ lục tầm bắn của khẩu CheyTac M200 được xác nhận là 2350m khi bắn diễn tập với mục tiêu là bia có kích thước giống người thật.

    L115A3 AWM

    AWM là viết tắt của cụm từ Arctic Warfare Magnum, cụm từArctic Warefare có nghĩa  chiến tranh  vùng  cực Bắc ; và  Magnum  là tên loại đạn mà súng sử dụng.  Súng do hãng  Accuracy International  (Anh quốc) sản xuất, được coi là chuẩn mực của sự chính xác đối với các loại súng trường bắn tỉa trên toàn thế giới, là một trong những vũ khí thành công nhất của Anh.

     

    AWM sử dụng hai loại đạn đặc biệt có sức công phá lớn là .300 Winchester Magnum hoặc .338 Lapua Magnum đường kính 7mm, do đó thiết kế của súng cũng có nhiều thay đổi so với các dòng AW cơ bản khác để phù hợp với kích thước đạn lớn và áp lực cao hơn. Hộp đạn của L115A3 AWM chỉ trang bị được năm viên đạn, có thể tháo rời.

    Ống ngắm Schmidt & Bender PM II 10x42 với độ phóng đại 10x ở cự ly 1.500m với tiêu cự cố định. Có thể thay thế bằng loại ống ngắm S&B PM II với tiêu cự thay đổi trong từ 3 - 12x50 đến 4-16x50 và 5-25x56 tùy theo tình huống sử dụng ở những cự ly bắn khác nhau, hoặc khi xạ thủ cần có tầm quan sát rộng. Tầm bắn hiệu quả 1100m (.300 Winchester), 1400m (.338 Lapua), tầm bắn xa nhất 1.500m.

     

    L115A3 AWM được đánh giá rất cao nhờ khả năng sát thương cực lớn, tầm bắn xa, độ chính xác cao. Độ giật và chớp lửa đầu nòng khi bắn đã được giảm thiểu nhờ bộ loa che lửa có ống thoát khí hình quả trám. Độ chính xác cao do liều thuốc phóng lớn, đầu đạn nặng; khi bắn, đầu đạn có sơ tốc cao, động năng lớn, ít chịu ảnh hưởng của gió.

    Ngoài AWM, nhà sản xuất còn có các phiên bản AW với tên gọi khác như AWP (Arctic Warfare Police - phiên bản sử dụng cho  cảnh sát ) hay AWF (Arctic Warfare Folding). L115A3 AWM với kính ngắm Schmidt Bender cũng chính là khẩu súng đã giúp Thượng sĩ Craig Harrison lập kỷ lục với cú bắn tỉa ở khoảng cách 2.475m.

    AMP DSR-1

    DSR-1 là  súng bắn tỉa  sử dụng hệ thống  thoi nạp đạn trượt  được chế tạo bởi công ty DSR-Precision GmbH của Đức và được bán bởi công ty AMP Technical Services của Đức đến năm 2004 như một loại súng bắn tỉa dành cho lực lượng cảnh sát. Nó được sử dụng bởi  lực lượng chống khủng bố GSG 9  của Đức và một số  lực lượng đặc nhiệm cũng như lực lượng bảo vệ các cơ quan quan trọng tại Châu Âu .

     

    DSR-1 sử dụng thiết kế băng đạn gắn phía sau và nòng súng gắn một cách tự do, có hệ thống chân chống chữ V gắn vào thanh răng phía trên thân súng. Báng súng của nó có thể điều chỉnh độ dài và độ cao phù hợp cho xa thủ. DSR-1 có một khe gắn băng đạn dự phòng nằm ở phía trước cò súng để tiện cho việc nạp lại đạn trong thời gian ngắn cũng như không phải cất băng đạn đó trong người giúp có thể tiết kiệm không gian và mang theo nhiều đạn hơn. Khoang chứa đạn của loại súng này có 6 móc để khóa viên đạn cố định vào vị trí. Nòng súng được bao ngoài bởi một ống lưới bằng nhôm và nòng súng có tích hợp  bộ phận chống giật  ở phía đầu. Nòng súng cũng có thể gắn thêm một  ống hãm thanh. Sử dụng đạn .300 Winchester Magnum, .338 Lapua Magnum tương tự L115A3 AWM với tầm bắn hiệu quả 800 – 1200 m.

    DSR-1 có biến thể là DSR-1 Subsonic sử dụng loại đạn cận âm 7.62x51mm NATO hay .308 Winchester . Nòng của Subsonic bị rút lại chỉ còn 310 mm. Rãnh xoán trong nòng súng dài 8 inch để ổn định đường đạn cho các loại đạn cận âm hạng nặng. Sức mạnh của thuốc súng được sử dụng để chỉ đẩy viên đạn đi trong vận tốc (300 m/s - 320 m/s) gần nhưng không vượt tốc độ âm thanh (~ 340 m/s). Việc chỉ sử dụng loại đạn cận âm là vì bất cứ vật gì khi vượt tường âm thanh sẽ có hiện tượng bị rung có thể giảm độ chính xác vì độ rung khiến nó bay chệch hướng và với hàng loạt sóng chấn động liên tục do việc rung gây ra có thể làm viên đạn bị rạng nứt khiến sức công phá giảm đi đáng kể đặc biệt là khi nó cần phải xuyên qua vật cản để đến mục tiêu. Nhà sản xuất đã tuyên bố chế tạo loại đạn cận âm riêng dành cho DSR-1 Subsonic.

    DSR-50 Sniper Rifle là súng bắn tỉa công phá sử dụng thiết kế của DSR-1. Nó có hệ thống chống xốc ở báng súng cũng như bộ phận chống giật lớn ở đầu nòng súng để giúp giảm độ giật tác động vào xạ thủ khi bắn do loại đạn .50 BMG (12.7x99mm NATO) gây ra khi bắn.

    Zastava M76

    Khẩu M76 là một vũ khí quân sự hiện đại bán tự động đã dược các xạ thủ phát triển và được sản xuất bởi công ty sản xuất vũ khí Zastava của Kragujevac, Nam Tư. Công ty sản xuất vũ khí Zastava đã cho ra đời khẩu M76 giữa những năm 1970. Từ đó nó trở thành súng trường tiêu chuẩn của xạ thủ bắn tỉa trong quân đội Serbia cũng như tiền thân của nó là Quân đội Quốc gia Nam Tư. Trong chiến tranh Nam Tư, nó được sử dụng bởi rất nhiều phe và được thấy khi đang được sử dụng ở Croatia, Bosnia và Kosovo.

     

    Khẩu M76 có thể nói là hoạt động khá giống với khẩu bắn tỉa Dragunov SVD của Nga, hoạt động bán tự động và có khả năng khai thác tối đa sức mạnh của hộp đạn 10 viên dựa trên thết kế của AK-47 . Tuy nhiên, M76 lại có thiết kế gần giống với AK-47 hơn Dragunov SVD. Thay vì là một bản sao của  Dragunov SVD, nó giống như một AK-47 với nòng súng được kéo dài ra và nặng hơn. Cũng như ổ đạn của  Dragunov SVD sử dụng loại đạn  7,62x54R thì M76 sử dụng tốt hơn với loại đạn 7,92x57mm Mauser. Đạn 7,92x57mm Mauser đã được chọn làm loại đạn thông dụng với chuẩn súng máy được sủ dụng bởi  Quân đội Quốc gia Nam Tư sau khi M76 được chấp nhận và cũng được dùng trong  Zastava SARAC M53  một bản sao MG42 của Đức. M76 có kiểu piston giống như AK gắn với khoang chứa đạn. Với một khoang chứa được làm giống như AK-47 tuy nhiên được làm dài hơn để có thể gắn và sử dụng đạn 7,92x57mm Mauser. Kiểu AK có dụng cụ xoay viên đạn, khoang chứa đạn, nòng và nhiều thứ linh tinh khác được làm dài hơn khiến nó trở nên nặng hơn để có thể phù hợp. Hộp tiếp đạn bằng thép 10 viên có thể giữ cho bộ khóa nòng mở sau khi bắn viên cuối cùng. Vì hiện tại lúc đó chưa có thiết bị giữ cho bộ khóa nòng ở phía sau nên búa điểm hỏa sẽ đẩy lên phía trước gây khó khăn cho việc tháo băng đạn. Chỉ có chế độ bắn bán tự động kiểu AK chỉ có hai chế độ là bắn và khóa an toàn, nòng súng được thiết kế phù hợp cho đạn 7,92x57mm Mauser và có hình dạng giống như nòng của Dragunov SVD nhưng nhỏ hơn với thiết kế chống chớp sáng và có điểm ruồi để ngắm. Lưỡi lê của súng AKM có thể gắn vào bộ phận gắn lưỡi lê bên dưới bộ phận ngắm. Điểm giống  Dragunov SVD  và không có trong AK-47 là M76 có các lỗ thoát khí trên nòng súng cho phép khí nén thoát ra dể tránh bị giật.

     

    Với các đặc điểm như tay cầm rời giống như Dragunov và có các rãnh giống như súng ngắn thay vì lỗ để nhét ngón tay cái vào như Dragunov. Tay cầm được làm bằng nhựa thường thấy tại dòng vũ khí  Zastava M70. Với mẫu mới báng súng gỗ được thay bằng vật liệu nhựa tổng hợp có chỗ để chứa đồ phụ tùng như dụng cụ làm sạch và giảm trong lượng khẩu súng đi 0.5 kg. Ngoại trừ cơ chế thông khí, khả năng tháo dỡ và lắp ráp tất cả đều hoạt động giống như dòng vũ khí AK-47/AKM.

    Loại ống ngắm có thể được sử dụng là  ZRAK M-76 4x 5°10’ được sản xuất ở nhà máy ZRAK tại  Sarajevo,  Bosnia và Herzegovina. Loại ống ngắm này tương tự với loại  PSO-1 4x24 được gắn trên khẩu SVD của Nga và .O.R. LPS 4x6° TIP2 4x24 của Rumani được gắn trên khẩu  PSL. Sự bắt sáng của ống ngắm ZRAK M-76 4x 5°10’ được thực hiện bởi sự phóng xạ của chất trilium .

    Trong phần cuối của loạt bài viết, chúng ta sẽ tìm hiểu những khẩu súng sniper cỡ nòng lớn như Anzio Vulcan hay Barret 50 Cal …

    (Còn tiếp …)

    Những khẩu súng bắn tỉa đáng sợ nhất thế giới (Phần I)

    (GenK.vn) - Bắn tỉa là cả một nghệ thuật, linh bắn tỉa là nghệ sĩ và những cây súng bắn tỉa là công cụ để thực hiện nghệ thuật.

       

     

    Tin cùng chuyên mục
    Xem theo ngày